Bản đồ số nông sản Đắk Lắk: Giá trị không nằm ở “bản đồ” mà ở dữ liệu sống
Chủ nhật , 30/08/2026 10:27
```
Chủ nhật , 30/08/2026 10:27
Việc chính thức đưa Bản đồ số nông sản vào vận hành đánh dấu bước tiến quan trọng của Đắk Lắk trong quản trị nông nghiệp hiện đại. Tuy nhiên, còn rất nhiều việc phải làm nhằm biến tọa độ trên màn hình thành hạ tầng dữ liệu số lâu dài, kết nối thông suốt từ vườn trồng đến thị trường quốc tế.
Phóng viên Báo và Phát thanh, Truyền hình Đắk Lắk đã trao đổi với TS. Trịnh Đức Minh, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Buôn Ma Thuột xung quanh vấn đề này.
* Ông đánh giá thế nào về ý nghĩa của Bản đồ số nông sản đối với Đắk Lắk hiện nay?
- Tôi cho rằng đây là một bước đi đúng hướng và có ý nghĩa chiến lược. Tuy nhiên, cần hiểu bản đồ số nông sản không chỉ là một bản đồ để xem “ở đâu”. Nếu được xây dựng đúng, nó phải trở thành một lớp hạ tầng dữ liệu không gian của nông nghiệp tỉnh. Từ đó, cơ quan quản lý có thể biết vùng sản xuất có mã định danh gì, thuộc chủ thể nào, diện tích bao nhiêu, đang sản xuất gì, có mã số vùng trồng hay chứng nhận nào, liên kết với hợp tác xã hoặc doanh nghiệp nào và được cập nhật khi nào.
TS. Trịnh Đức Minh - Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Buôn Ma Thuột
Ý nghĩa lớn nhất là chuyển từ quản lý bằng số liệu tổng hợp sang quản trị từng đối tượng sản xuất cụ thể: vườn nào, ranh giới ở đâu, ai quản lý và trạng thái hiện tại ra sao.
Đối với Đắk Lắk, giá trị này càng lớn khi không gian phát triển của tỉnh nối vùng nguyên liệu với chế biến, kho bãi, cảng biển và thị trường. Một nền dữ liệu thống nhất có thể hỗ trợ quản lý vùng nguyên liệu, quy hoạch, đầu tư và tổ chức chuỗi cung ứng. Vì vậy, việc đưa bản đồ số vào vận hành nên được xem là điểm khởi đầu của quá trình xây dựng hạ tầng dữ liệu nông nghiệp số.
* Có ý kiến cho rằng khi xác định được vùng trồng và tọa độ trên bản đồ thì có thể truy xuất nguồn gốc. Ông nhìn nhận thế nào về vấn đề này, nhất là đối với ngành cà phê?
- Bản đồ số và truy xuất nguồn gốc liên quan chặt chẽ nhưng không phải là một. Nói ngắn gọn, bản đồ chủ yếu trả lời câu hỏi “ở đâu”, còn truy xuất nguồn gốc phải trả lời thêm “của ai, sản phẩm gì, khi nào, bao nhiêu, từ đâu đến đâu và có bằng chứng gì”.
Ví dụ, biết một hộ có vườn cà phê 2,5 ha, ranh giới chính xác và có chứng nhận vẫn chưa cho biết cà phê được thu hoạch ngày nào, tạo thành lô nào, bán cho ai, chế biến ra sao và cuối cùng đi vào lô hàng nào. Muốn truy xuất được phải nối dữ liệu từ vườn, thu hoạch, thu mua, chế biến đến xuất khẩu.
Vì vậy, không nên đồng nhất “đã có bản đồ vùng trồng” với “đã truy xuất được sản phẩm”. Cách phù hợp là dùng bản đồ số làm nền không gian, còn hệ thống truy xuất nguồn gốc quản lý dòng sản phẩm và các sự kiện trong chuỗi.
Đối với cà phê Đắk Lắk, nếu tỉnh có bộ dữ liệu vườn được chuẩn hóa, gồm mã định danh ổn định, ranh giới, chủ thể quản lý, giống, diện tích, vùng sản xuất, chứng nhận và tình trạng chỉ dẫn địa lý, doanh nghiệp sẽ giảm nhiều việc lập lại dữ liệu. Nền này cũng hỗ trợ quản lý Chỉ dẫn địa lý Cà phê Buôn Ma Thuột và đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc, vị trí sản xuất, chống mất rừng của thị trường Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, vị trí đúng mới là điều kiện ban đầu; để chứng minh nguồn gốc vẫn phải theo được lô hàng xuyên suốt chuỗi.
* Theo ông, tỉnh Đắk Lắk cần ưu tiên những việc nào ngay sau khi đưa Bản đồ số nông sản vào vận hành?
- Rủi ro lớn nhất là “bản đồ đẹp nhưng dữ liệu chết”. Một hệ thống có thể rất tốt lúc nghiệm thu nhưng vài năm sau chủ thể thay đổi, vùng trồng thay đổi, ranh giới được đo lại, chứng nhận hết hạn, mã số vùng trồng bị tạm dừng mà dữ liệu không được cập nhật. Khi đó phần mềm vẫn hoạt động nhưng thông tin không còn đủ tin cậy để quản lý hay phục vụ thị trường.
Vì vậy, giai đoạn tiếp theo không nên chủ yếu chạy theo việc bổ sung chức năng, mà phải tập trung làm chắc dữ liệu. Trước hết, cần chuẩn hóa mã định danh cho nông hộ, vườn, vùng trồng, cơ sở đóng gói, cơ sở chế biến và các chủ thể liên quan; xây dựng từ điển dữ liệu thống nhất; xác định nguồn dữ liệu chính thức; quy định rõ ai được cập nhật, ai xác nhận và trong thời hạn bao lâu.
Hiệp hội Cà phê Buôn Ma Thuột tổ chức đi thực tế tại một vùng trồng có Chỉ dẫn địa lý Cà phê Buôn Ma Thuột
Cùng với đó, phải làm sạch dữ liệu trùng lặp, phát hiện ranh giới chồng lấn hoặc diện tích bất thường, giữ lịch sử thay đổi, phân quyền truy cập để bảo vệ thông tin cá nhân và bí mật thương mại, đồng thời bảo đảm kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc dùng chung.
Thước đo thành công cũng cần thay đổi. Không nên chỉ hỏi đã đưa được bao nhiêu điểm lên bản đồ mà phải hỏi bao nhiêu đối tượng có định danh đúng, bao nhiêu dữ liệu còn được cập nhật, bao nhiêu vùng trồng không trùng lặp, bao nhiêu lô hàng có thể truy ngược về nguồn và bao nhiêu doanh nghiệp, hợp tác xã thực sự sử dụng dữ liệu.
* Vậy để Bản đồ số thực sự trở thành một hạ tầng dữ liệu lâu dài của ngành nông nghiệp thì tỉnh cần làm gì, thưa ông?
- Tôi đề xuất Đắk Lắk xem xét xây dựng Chương trình quản trị dữ liệu số nông nghiệp tỉnh giai đoạn 2026 - 2030. Đây không phải là xây thêm một phần mềm mới hay lập thêm một bộ máy lớn mà là thiết lập cơ chế để dữ liệu được định danh, thu thập, chuẩn hóa, kiểm tra, cập nhật, lưu lịch sử, chia sẻ và khai thác thường xuyên.
Chương trình cần xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm đối với từng nhóm dữ liệu; xây dựng từ điển dữ liệu và danh mục nguồn dữ liệu chính thức; thống nhất mã định danh; quy định chất lượng và thời hạn cập nhật; quản lý lịch sử thay đổi của ranh giới vùng sản xuất; phân tầng quyền truy cập; bảo đảm khả năng kết nối, xuất chuyển dữ liệu và không phụ thuộc vào một nhà cung cấp công nghệ.
Về tổ chức, nên theo mô hình một nhóm điều phối nhỏ nhưng có mạng lưới rộng: Sở Nông nghiệp và Môi trường làm đầu mối; các đơn vị chuyên môn và xã, phường có cán bộ phụ trách dữ liệu; hợp tác xã tham gia cập nhật dữ liệu đầu chuỗi; doanh nghiệp cung cấp dữ liệu thu mua, chế biến và lô hàng; hiệp hội ngành hàng tham gia chuẩn chuyên ngành, đào tạo và phản hồi về khả năng sử dụng dữ liệu.
Chương trình nên đi cùng một quy chế về quản lý, vận hành, cập nhật, chia sẻ và khai thác dữ liệu. Có như vậy, vài năm nữa dù thay phần mềm hay nhà cung cấp công nghệ, tài sản quan trọng nhất của tỉnh vẫn còn nguyên: mã định danh, dữ liệu, lịch sử, các mối quan hệ và cơ chế quản trị. Đó mới là nền tảng để Bản đồ số nông sản Đắk Lắk thực sự sống, được sử dụng và tạo giá trị lâu dài.
* Trân trọng cảm ơn ông!
Minh Thuận (thực hiện)
Nguồn: “Báo Đắk Lắk Điện tử”
Bài viết gốc: Xem tại đây