Tháo gỡ điểm nghẽn, tăng tốc xuất khẩu nông sản cuối năm
Thứ sáu , 31/07/2026 16:29
```
Thứ sáu , 31/07/2026 16:29
Mặc dù xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 7 tháng đầu năm tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực với kim ngạch đạt 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, song chặng đường phía trước vẫn còn nhiều áp lực.
Kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng còn không ít thách thức
Theo ông Ngô Hồng Phong, Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhu cầu tiêu dùng trong nước vẫn duy trì ổn định, trong khi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tiếp tục mở rộng dư địa cho nông sản Việt Nam thâm nhập các thị trường quốc tế.
Đặc biệt nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành, GDP khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tính 7 tháng đầu năm, xuất khẩu đạt 42,8 tỷ USD, tăng 7,5%, cho thấy đà tăng trưởng vẫn được duy trì, tạo nền tảng để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế.
GDP khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tính 7 tháng đầu năm, xuất khẩu đạt 42,8 tỷ USD, tăng 7,5%. Ảnh: NN
Cán cân thương mại nông, lâm, thủy sản tiếp tục xuất siêu 9,2 tỷ USD, giảm 7,7% so với cùng kỳ do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu. Trong đó, lâm sản xuất siêu 7,36 tỷ USD, tăng 1,4%; thủy sản xuất siêu 4,13 tỷ USD, tăng 17%; riêng nhóm nông sản chỉ còn xuất siêu 1,51 tỷ USD, giảm tới 60,6% do giá xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực như cà phê, gạo, cao su giảm mạnh, trong khi nhập khẩu nguyên liệu tăng cao.
Đánh giá kết quả đạt được trong 7 tháng năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vẫn đối mặt nhiều thách thức. Giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực như cà phê, gạo, cao su và chè giảm do giá xuất khẩu bình quân đi xuống; trong khi các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển xanh, giảm phát thải. Đặc biệt, Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) đặt ra những yêu cầu khắt khe đối với doanh nghiệp (DN) và toàn bộ chuỗi sản xuất.
Theo Thứ trưởng, để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GDP toàn ngành đạt tối thiểu 4% và đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 74 tỷ USD trong năm 2026, cần tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về vùng nguyên liệu, logistics, chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn xanh và đa dạng hóa thị trường; đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng, cộng đồng DN và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nhằm mở rộng thị trường, tháo gỡ rào cản thương mại và hỗ trợ DN xuất khẩu.
DN kiến nghị mở rộng thị trường, giảm chi phí
Từ góc nhìn DN, nhiều hiệp hội ngành hàng cho rằng dư địa tăng trưởng vẫn còn lớn nếu kịp thời tháo gỡ các khó khăn đang phát sinh.
Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, Philippines vẫn là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam. Trong 7 tháng đầu năm, lượng gạo xuất khẩu sang thị trường này đạt khoảng 2,5 triệu tấn. Tuy nhiên, nhiều chính sách quản lý nhập khẩu mới của Philippines đang gây khó khăn cho DN Việt Nam, dù nhu cầu tiêu thụ vẫn ở mức cao.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường giải đáp vướng mắc cho DN. Ảnh: Khương Trung
Hiệp hội Lương thực Việt Nam đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ động làm việc với phía Philippines, đồng thời thúc đẩy cơ chế đối thoại giữa hiệp hội lương thực hai nước để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc phát sinh, hướng tới quan hệ hợp tác lâu dài thay vì xử lý từng vụ việc.
Hiệp hội cũng kiến nghị tiếp tục hỗ trợ DN mở rộng xuất khẩu sang các nước châu Phi và các thị trường tiềm năng khác nhằm giảm rủi ro do phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.
Đối với ngành rau quả, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (VINAFRUIT), cho rằng những điểm nghẽn về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói cần sớm được xử lý. Theo ông Bình, hồ sơ, thủ tục cấp mã số còn phức tạp, trong khi nhiều nông dân chưa nắm rõ quy trình, làm kéo dài thời gian thực hiện và ảnh hưởng đến niềm tin đối với cơ quan chuyên môn.
Ông Nguyễn Thanh Bình kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ động đàm phán với các thị trường nhập khẩu để thống nhất quy trình và thời gian cấp mã số vùng trồng phù hợp với thực tế.
Đồng thời, Hiệp hội đề xuất đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; số hóa dữ liệu, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm; tăng cường phổ biến các quy định về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, chuyển đổi số và sản xuất giảm phát thải đến từng hộ dân, hợp tác xã DN...
Đối với ngành hàng sầu riêng, ông Lê Anh Trung, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đắk Lắk, đề xuất tập trung phát triển vùng nguyên liệu bền vững, chuẩn hóa quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, đẩy mạnh chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và đầu tư vào chế biến, logistics, bảo quản sau thu hoạch để nâng cao giá trị gia tăng.
Trong khi đó, ông Đỗ Ngọc Tài, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam cho rằng, để cùng toàn ngành nông nghiệp hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026, ngành thủy sản cần đổi mới mô hình tăng trưởng theo bốn trụ cột: tối ưu chi phí sản xuất và nâng cao giá trị gia tăng thông qua chế biến sâu; khai thác tối đa dư địa về sản phẩm và thị trường; tháo gỡ các điểm nghẽn trong chuỗi cung ứng để bảo đảm lưu thông nguyên liệu và hàng hóa; đồng thời ưu tiên mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu trong 2-3 năm tới.
Ông Đỗ Ngọc Tài cũng kiến nghị các bộ, ngành cần sớm có giải pháp khơi thông nguồn nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu; xây dựng chương trình hành động theo từng thị trường trọng điểm; giảm chi phí logistics, vận tải biển; đồng thời tháo gỡ khó khăn về vốn và lao động để DN nâng cao năng lực sản xuất.
Chuyển mạnh từ xuất khẩu số lượng sang xuất khẩu giá trị
Chính phủ đã giao ngành Nông nghiệp và Môi trường mục tiêu tăng trưởng 4% trong năm 2026, đồng thời phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu trên 74 tỷ USD. Điều này đồng nghĩa 6 tháng cuối năm ngành phải đạt mức tăng trưởng 4,3% và kim ngạch xuất khẩu khoảng 38,3 tỷ USD.
Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng, trong bối cảnh xung đột địa chính trị, chi phí logistics tăng cao, xu hướng bảo hộ thương mại và các tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe, ngành nông nghiệp phải chủ động chuyển đổi tư duy phát triển.
Bộ trưởng yêu cầu toàn ngành quán triệt bốn định hướng lớn, trước hết là lấy nhu cầu thị trường làm trung tâm để tổ chức lại sản xuất, gắn sản xuất với toàn bộ chuỗi giá trị từ giống, vùng nguyên liệu, chế biến, logistics đến phân phối và xúc tiến thương mại.
Cùng với đó, ngành phải chuyển mạnh từ tăng trưởng theo sản lượng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng; ưu tiên phát triển sản phẩm chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý và tăng khả năng tham gia trực tiếp vào hệ thống phân phối toàn cầu.
Một yêu cầu quan trọng khác là phát huy vai trò của từng chủ thể trong chuỗi giá trị. Trong đó, DN giữ vai trò trung tâm tổ chức thị trường và liên kết sản xuất; người nông dân, ngư dân và hợp tác xã là nền tảng sản xuất; hiệp hội ngành hàng là cầu nối với thị trường; còn Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, cung cấp thông tin, tháo gỡ điểm nghẽn và tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu.
“Với mục tiêu xuất khẩu hơn 74 tỷ USD trong năm 2026, những tháng cuối năm sẽ là giai đoạn quyết định. Việc đồng bộ các giải pháp từ mở rộng thị trường, chuẩn hóa vùng nguyên liệu, giảm chi phí logistics đến thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng cao giá trị chế biến sẽ là chìa khóa để nông sản Việt Nam duy trì đà tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh và khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế”, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh.
Khanh Lê
Nguồn: daidoanket.vn
Bài viết gốc: Xem tại đây