Lượng hóa giá trị carbon rừng thế nào để có nguồn thu?
Thứ năm , 02/07/2026 14:44
```
Thứ năm , 02/07/2026 14:44
Muốn biến khả năng hấp thụ carbon của rừng thành nguồn thu, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm đề nghị địa phương lượng hóa giá trị carbon của từng khu rừng trên địa bàn.
Nhiều địa phương kỳ vọng có thể tạo thêm nguồn thu từ carbon rừng sau khi Nghị định 180/2026/NĐ-CP có hiệu lực. Tuy nhiên, trước khi nghĩ đến giao dịch hay tín chỉ, việc đầu tiên họ phải làm lại là xác định khu rừng của mình đang hấp thụ bao nhiêu carbon, có thể giảm phát thải bao nhiêu và phần nào đủ điều kiện để hình thành dự án.
Việc đầu tiên, vì thế, không phải tìm đối tác mua tín chỉ mà là lượng hóa được giá trị carbon của từng cánh rừng. Trọng tâm triển khai, theo tinh thần Hội nghị phổ biến Nghị định 180/2026/NĐ-CP sáng 2/7, do Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm tổ chức, chuyển dần sang chuẩn bị dữ liệu, năng lực và quy trình để mỗi lượng carbon được tạo ra đều có thể đo đạc, xác minh và giao dịch minh bạch.
Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm Phạm Hồng Lượng. Ảnh: Bảo Thắng.
Tín chỉ carbon chỉ được giao dịch sau khi trải qua nhiều bước xác minh
Khác với các sản phẩm lâm nghiệp truyền thống có thể xác định bằng diện tích hoặc sản lượng gỗ, tín chỉ carbon chỉ được hình thành khi chứng minh được lượng khí nhà kính đã giảm phát thải hoặc lượng carbon được hấp thụ bổ sung theo các phương pháp được công nhận.
Theo kế hoạch triển khai Nghị định 180 do Cục công bố, một dự án carbon rừng phải trải qua chuỗi quy trình gồm xây dựng dự án, đăng ký, đo đạc - báo cáo - thẩm định (MRV), xác định kết quả giảm phát thải hoặc hấp thụ carbon, cấp tín chỉ và chỉ được trao đổi, chuyển nhượng sau khi được cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
Việc giao dịch có thể thực hiện thông qua hợp đồng hoặc sàn giao dịch carbon, đồng thời phải bảo đảm không ảnh hưởng đến mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC).
Điều đó cũng có nghĩa, giá trị của rừng trong thị trường carbon không còn được nhìn nhận đơn thuần qua diện tích hay trữ lượng gỗ, mà được quyết định bởi khả năng chứng minh lượng carbon hấp thụ hoặc giảm phát thải.
"Mỗi tín chỉ đều phải dựa trên dữ liệu hoạt động, phương pháp tính toán, kết quả kiểm chứng độc lập và quy trình quản lý thống nhất nhằm tránh tính trùng, giao dịch trùng hoặc phát sinh tín chỉ không bảo đảm chất lượng", bà Nghiêm Phương Thuý, Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác quốc tế, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm chia sẻ.
Để phục vụ quy trình này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) về tín chỉ carbon rừng. Dự thảo quy định các yêu cầu đối với dự án carbon, phương pháp đo đạc, báo cáo phát thải và hấp thụ carbon, yêu cầu về thẩm định, xác minh cũng như các nguyên tắc bảo đảm an toàn môi trường - xã hội. Đây sẽ là cơ sở kỹ thuật để thống nhất cách xác định và kiểm chứng tín chỉ carbon trong nước, đồng thời tạo nền tảng cho việc kết nối với các tiêu chuẩn quốc tế.
Quy trình chặt chẽ này cũng lý giải vì sao sau khi Nghị định 180 được ban hành, trọng tâm của cơ quan quản lý không phải là xúc tiến giao dịch ngay lập tức, mà là xây dựng hệ thống dữ liệu, tiêu chuẩn và năng lực để thị trường vận hành trên nền tảng có thể kiểm chứng.
Hội nghị thu hút sự tham gia của gần 1.000 điểm cầu trực tuyến. Ảnh: Bảo Thắng.
Địa phương được yêu cầu tự đánh giá tiềm năng carbon của rừng
Nếu tín chỉ carbon được hình thành từ dữ liệu, thì địa phương chính là nơi phải tạo ra dữ liệu đó. Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm Phạm Hồng Lượng cho biết, sau khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành kế hoạch triển khai Nghị định 180, các địa phương cần sớm tham mưu UBND cấp tỉnh ban hành kế hoạch thực hiện.
Cùng với đó, tổ chức phổ biến quy định đến từng chủ rừng, đa dạng hóa hình thức truyền thông và xây dựng tài liệu theo hướng dễ tiếp cận thay vì chỉ sử dụng ngôn ngữ pháp lý.
Theo ông, đây là lĩnh vực hoàn toàn mới, vì vậy nhu cầu đào tạo, tăng cường năng lực, xây dựng cơ sở dữ liệu, tiếp cận các nguồn hỗ trợ kỹ thuật và kết nối với các đối tác phát triển sẽ tăng mạnh trong thời gian tới. Những nội dung này đều đã được đưa vào kế hoạch triển khai của Bộ nhằm hỗ trợ địa phương chuẩn bị điều kiện thực hiện dự án carbon.
Một yêu cầu được ông Lượng đặc biệt nhấn mạnh, là các tỉnh cần chủ động đánh giá hiện trạng và tiềm năng hấp thụ carbon của rừng trên địa bàn. Chỉ khi biết rõ lượng carbon đang có, khả năng hấp thụ trong tương lai và mức giảm phát thải có thể đạt được, địa phương mới xác định được quy mô dự án, lượng tín chỉ có khả năng hình thành cũng như định hướng phát triển thị trường trong những năm tới.
Liên quan đến hạ tầng dữ liệu, Phó Cục trưởng thông tin, Bộ đã đưa nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ kiểm kê khí nhà kính, theo dõi diễn biến rừng và xác định lượng hấp thụ carbon vào kế hoạch triển khai. Kết quả điều tra, kiểm kê và theo dõi rừng trong tương lai sẽ không chỉ phục vụ quản lý tài nguyên mà còn trở thành căn cứ để xác định mức tham chiếu và lượng hấp thụ carbon của rừng theo từng giai đoạn.
Bà Nghiêm Phương Thuý trình bày nội dung và kế hoạch triển khai Nghị định 180. Ảnh: Bảo Thắng.
Cùng với dữ liệu, các địa phương cũng được khuyến nghị chuẩn bị nguồn nhân lực, năng lực xây dựng dự án và hệ thống giám sát ngay từ bây giờ. Bởi khi thị trường carbon vận hành, việc quyết định một khu rừng có thể tạo ra bao nhiêu tín chỉ sẽ không dựa trên kỳ vọng mà dựa trên những con số đã được đo đạc và kiểm chứng.
"Điều cần tránh trong giai đoạn đầu là cần nhìn nhận carbon rừng như một nguồn tài chỉnh bổ sung", ông Lượng nhấn mạnh. Đây không thể là "mỏ vàng" mới, mà là động lực giúp chủ rừng có thêm điều kiện bảo vệ, phát triển rừng và duy trì các hoạt động quản lý bền vững, bên cạnh các nguồn lực hiện có.
Đó cũng là ý nghĩa lớn nhất của giai đoạn triển khai Nghị định 180. Trước khi hình thành thị trường hay xuất hiện những giao dịch đầu tiên, việc quan trọng hơn là xây dựng được một hệ thống dữ liệu đủ tin cậy để lượng carbon của mỗi cánh rừng có thể được đo đếm, kiểm chứng và lượng hóa thành giá trị kinh tế.
Chỉ khi biết chính xác rừng đang hấp thụ bao nhiêu carbon, địa phương mới thực sự biết mình đang nắm trong tay bao nhiêu tiềm năng để tham gia thị trường carbon trong tương lai.
|
Nghị định 180/2026/NĐ-CP lần đầu quy định toàn diện về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, tạo khung pháp lý cho việc hình thành, quản lý và giao dịch kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng tại Việt Nam. Theo nghị định, các hoạt động như bảo vệ rừng, giảm mất rừng, phục hồi rừng, trồng rừng, làm giàu rừng, nâng cao năng suất rừng trồng và một số mô hình lâm nông kết hợp có thể tạo ra kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon nếu đáp ứng các yêu cầu về xây dựng dự án, đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh theo quy định. Nghị định cũng quy định rõ chủ thể tham gia cung ứng, sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng; nguyên tắc quản lý nguồn thu; cơ chế trao đổi, chuyển nhượng thông qua hợp đồng hoặc sàn giao dịch carbon; đồng thời yêu cầu mọi giao dịch phải bảo đảm không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam. Đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, nguồn thu từ carbon được ưu tiên cho bảo vệ và phát triển rừng, hỗ trợ sinh kế cộng đồng, xây dựng dự án carbon, đo đạc, báo cáo, thẩm định và phát triển cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý. Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/7 |
Bảo Thắng
Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn
Bài viết gốc: Xem tại đây